Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm tăng 7,5%, top các địa phương tăng mạnh không có các thành phố trực thuộc TW (Mới)

Theo báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê, sản xuất công nghiệp tháng 4 ước tính tăng 2% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân là do dịch Covid-19 đã được khống chế, các doanh nghiệp chủ động hơn về lao động và phương án sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn để phục hồi và mở rộng sản xuất.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 4 năm 2022 ước tính tăng 2% so với tháng trước và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước.

Đặc biệt, so với cùng kỳ năm 2021, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,3% (cao hơn mức tăng 5,8% và 9,6% của cùng kỳ năm 2018 và 2019, những năm không có dịch Covid-19). . -19); sản xuất và phân phối điện tăng 2,8%; ngành khai khoáng tăng 2,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 9,5%).

Trong đó, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,3% (cùng kỳ năm 2021 tăng 12,1%), đóng góp 6,5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; sản xuất và phân phối điện tăng 6,6%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm.

Ngoài ra, ngành khai khoáng cũng tăng 2,6%, đóng góp 0,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải và nước thải tăng 1,1%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm 2022 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước và có mức tăng cao hơn so với cùng kỳ năm 2019 (năm không có dịch Covid-19).

Cụ thể, ngành sản xuất may mặc tăng 20,1% (cùng kỳ năm 2019 tăng 7,9%); sản xuất thiết bị điện tăng 19,1% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,2%); sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 13,2% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,9%).

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 12,8% (cùng kỳ năm 2019 tăng 3,9%), da và các sản phẩm liên quan tăng 12,8% (cùng kỳ năm 2019). giai đoạn 2019 tăng 8,3%); sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 11,1% (cùng kỳ năm 2019 giảm 3,4%).

Mặt khác, chỉ số IIP của một số ngành giảm như sản xuất sản phẩm từ cao su và nhựa giảm 12,9%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 11,5%.

Bên cạnh đó, sản xuất than cốc và các sản phẩm dầu mỏ tinh luyện giảm 8,3%; khai khoáng khác giảm 4%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 3,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,7%.

Về phía các địa phương, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 61 địa phương và giảm ở 2 địa phương trên cả nước.

10 tỉnh có mức tăng trưởng IIP tốt nhất cả nước đều ghi nhận mức tăng trên 18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Hà Giang và Bắc Giang có mức tăng trưởng tốt nhất với lần lượt là 33,2% và 32,2%. ,Đầu tiên%.

8 địa phương còn lại trong tốp 10 có mức tăng IIP cao nhất là Kon Tum, Lai Châu, Bình Phước, Hải Dương, Quảng Nam, Đắk Lắk, Bạc Liêu và Lâm Đồng.

Sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm tăng 7,5%, top đầu các địa phương tăng trưởng mạnh không có thành phố trực thuộc Trung ương - Ảnh 1.

Tốc độ tăng / giảm chỉ số IIP 4 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%) (Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Ở chiều ngược lại, Trà Vinh và Hà Tĩnh là hai tỉnh ghi nhận mức giảm lần lượt 7,9% và 19,7% trong IIP so với cùng kỳ năm ngoái.

Báo cáo của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực 4 tháng đầu năm 2022 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước như bột ngọt và linh kiện điện thoại đều tăng 21,5%; thép thanh, thép góc tăng 15,2%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 13,5%; phân urê tăng 13,2%.

Tiếp theo là Alumin tăng 12,7%; quần áo mặc thường tăng 12,3%; ô tô tăng 12%; thủy sản chế biến tăng 11,3%; sữa tươi tăng 9,7%; thép cuộn tăng 9,6%; than sạch tăng 9,3%.

Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng giảm giá so với cùng kỳ là tivi giảm 18,9%; điện thoại di động giảm 9,9%; xăng, dầu giảm 9,7%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 9,1%; thức ăn thủy sản giảm 8,4%; sắt thép thô giảm 5,8%; sơn hóa học giảm 2,6%; khí thiên nhiên giảm 2,1%; khai thác dầu thô giảm 1,1%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tính đến ngày 1/4 tăng 1,3% so với cùng kỳ tháng trước và tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,2% và giảm 3,9%; khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 1,1% và giảm 2,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5% và 5,3%.

Theo ngành, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp khai khoáng tăng 0,3% so với cùng kỳ tháng trước và giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,4% và 4,3%.

Lực lượng lao động trong ngành sản xuất và phân phối điện, gas, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không thay đổi và tăng 0,7%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải không thay đổi và tăng 1,8%.

https://cafef.vn/san-xuat-cong-nghiep-4-thang-dau-nam-tang-75-top-cac-dia-phuong-tang-manh-khong-co-cac-thanh-pho- tw-2022050214102086.chn


Hoàng Tùng